Theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, có những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh: điều rõ ràng mà mọi người đều biết và được toà thừa nhận; điều đã được xác định trong bản án, quyết định của toà hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực; điều đã ghi trong văn bản được công chứng, chứng thực hợp pháp; và điều mà bên kia đã thừa nhận hoặc không phản đối.
Hiểu đúng nhóm này giúp bạn tiết kiệm sức: không phải gom chứng cứ cho những thứ đã được công nhận, và dồn công vào chỗ đang thực sự tranh chấp. Nhưng mỗi trường hợp đều có giới hạn. Văn bản công chứng vẫn có thể bị yêu cầu xuất trình bản gốc khi có dấu hiệu nghi ngờ, sự thừa nhận phải rõ ràng và đúng người, còn "ai cũng biết" hẹp hơn nhiều so với cách người ta hay nghĩ.
Vì sao luật cho miễn chứng minh một số điều
Chứng minh tốn thời gian, tiền bạc và công sức của cả các bên lẫn toà. Nếu một điều đã chắc chắn đến mức không ai nghi ngờ hợp lý, hoặc đã được một cơ quan có thẩm quyền xác định bằng thủ tục chặt chẽ, hoặc chính người có lợi ích ngược lại đã nhận là đúng, thì bắt chứng minh lại chỉ kéo dài vụ việc mà không làm sự thật rõ hơn.
Ngoài ra còn lý do về sự ổn định: một bản án đã có hiệu lực mà vụ khác lại được tranh cãi lại từ đầu thì hai bản án có thể mâu thuẫn nhau, người dân không biết đâu là kết luận cuối cùng. Việc công nhận những gì đã được xác định giúp các phán quyết nối tiếp nhau mạch lạc.
Nhưng miễn chứng minh không có nghĩa là miễn nộp tài liệu. Bạn vẫn phải cho toà thấy sự kiện đó thuộc trường hợp được miễn: nộp bản sao bản án, nộp văn bản công chứng, chỉ ra biên bản ghi lời thừa nhận. Điều được miễn là phải chứng minh lại nội dung đã được công nhận.
Bốn trường hợp và giới hạn của từng trường hợp
Bảng tóm tắt dưới đây đi theo cấu trúc của điều luật. Cột cuối là chỗ người ta hay vấp.
| Trường hợp | Ví dụ giả định | Giới hạn cần nhớ |
|---|---|---|
| Sự kiện rõ ràng ai cũng biết, được toà thừa nhận | Một trận bão lớn đổ bộ vào tỉnh vào thời điểm cụ thể đã được báo chí và cơ quan khí tượng thông báo rộng rãi | Phải thật sự phổ biến và được toà thừa nhận; điều chỉ hàng xóm trong ngõ biết thì không thuộc nhóm này |
| Đã được xác định trong bản án, quyết định có hiệu lực | Bản án ly hôn trước đó đã xác định một căn nhà là tài sản chung | Chỉ phần tình tiết bản án đó đã xác định; phải là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật |
| Đã ghi trong văn bản công chứng, chứng thực hợp pháp | Hợp đồng mua bán nhà có công chứng ghi giá và ngày ký | Có dấu hiệu nghi ngờ tính khách quan thì thẩm phán có thể yêu cầu xuất trình bản gốc, bản chính |
| Một bên thừa nhận hoặc không phản đối | Bị đơn thừa nhận đã nhận đủ số tiền nguyên đơn nêu | Thừa nhận của người đại diện chỉ có giá trị nếu không vượt quá phạm vi đại diện |
Nếu bạn định dựa vào một trong bốn trường hợp này, hãy nói rõ điều đó trong văn bản gửi toà, kèm tài liệu tương ứng. Đừng ngầm hiểu toà sẽ tự nhận ra.
"Ai cũng biết" hẹp hơn bạn nghĩ
Trường hợp thứ nhất là trường hợp hay bị hiểu rộng nhất. Trong tranh chấp hàng xóm, người ta thường nói "cả xóm đều biết bức tường này do nhà mình xây". Nhưng điều cả xóm biết chưa phải là điều mọi người đều biết theo nghĩa của luật, và cũng chưa được toà thừa nhận. Muốn dùng hiểu biết của cả xóm, bạn phải biến nó thành lời khai người làm chứng có tên, có địa chỉ, có chữ ký.
Những gì thường được coi là rõ ràng ai cũng biết là các sự kiện lớn, công khai, có tính khách quan cao: ngày lễ, một thiên tai đã được thông báo chính thức, việc một tuyến đường lớn đang thi công công khai trong thời gian dài. Ngay cả những điều này, toà cũng có quyền quyết định có thừa nhận hay không. Cách an toàn là kèm theo tài liệu tham chiếu, ví dụ thông báo của cơ quan chức năng, để toà dễ thừa nhận.
Một lỗi khác là coi thông tin lan truyền trên mạng xã hội là điều ai cũng biết. Một bài viết được chia sẻ nhiều lần không làm nội dung của nó thành sự thật đã được công nhận. Nếu bạn cần dùng nội dung đó, nó phải được thu thập và chứng minh như một chứng cứ điện tử.
Bản án, quyết định đã có hiệu lực: dùng thế nào cho đúng
Phải là bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Bản án sơ thẩm đang bị kháng cáo chưa có hiệu lực, nên những gì nó xác định chưa được miễn chứng minh. Khi dùng, hãy nộp bản sao có xác nhận và nếu được, tài liệu thể hiện bản án đã có hiệu lực.
Chỉ những tình tiết đã được xác định mới được miễn. Một bản án ly hôn có thể xác định căn nhà là tài sản chung nhưng không xác định giá trị hiện tại của nó. Khi chia tài sản ở vụ sau, giá trị vẫn phải chứng minh hoặc định giá.
Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền cũng thuộc nhóm này. Ví dụ một quyết định hành chính đã có hiệu lực xác định một sự kiện cụ thể. Nhưng nếu quyết định đó đang bị khiếu nại hoặc khởi kiện, tình trạng hiệu lực cần được kiểm tra kỹ trước khi dựa vào.
Kết luận của bản án hình sự về hành vi gây thiệt hại. Khi bản án hình sự có hiệu lực đã xác định một người có hành vi gây thiệt hại, vụ dân sự đòi bồi thường sau đó thường không phải chứng minh lại hành vi ấy; nhưng mức thiệt hại chưa được giải quyết thì vẫn phải chứng minh.
Văn bản công chứng, chứng thực: mạnh nhưng không tuyệt đối
Hợp đồng, văn bản đã được công chứng hoặc chứng thực hợp pháp có giá trị chứng minh rất cao vì có người có chức năng xác nhận việc ký kết, năng lực và ý chí của các bên tại thời điểm đó. Vì vậy những gì đã ghi trong văn bản đó, như các bên là ai, ký ngày nào, thoả thuận nội dung gì, được miễn chứng minh.
Giới hạn nằm ở cụm "hợp pháp" và quyền của thẩm phán. Khi có dấu hiệu nghi ngờ về tính khách quan, ví dụ bên kia cho rằng văn bản bị sửa, hoặc bản sao không khớp với những gì họ nhớ, thẩm phán có thể yêu cầu đương sự hoặc tổ chức hành nghề công chứng, cơ quan chứng thực xuất trình bản gốc, bản chính. Nếu văn bản công chứng đang bị yêu cầu tuyên vô hiệu trong chính vụ án, nó lại trở thành điều phải xem xét.
Cũng cần phân biệt: văn bản công chứng chứng minh rằng các bên đã thoả thuận như vậy, chứ không tự chứng minh rằng thoả thuận đã được thực hiện. Hợp đồng công chứng ghi giá mua nhà không chứng minh tiền đã được trả đủ. Việc thanh toán vẫn cần chứng từ riêng, trừ khi văn bản ghi rõ bên bán đã nhận đủ tiền.
Sự thừa nhận của bên kia: điều kiện và cách giữ lại
Đây là trường hợp có ích nhất trong thực tế, vì thừa nhận có thể xảy ra ở nhiều thời điểm: trong bản tự khai, trong phiên hoà giải ở toà, trong phiên toà. Một vài điểm cần nắm:
- Thừa nhận phải hướng tới đúng tình tiết, sự kiện, tài liệu mà bên kia đưa ra. Câu nói chung chung "có làm ăn với nhau" chưa phải là thừa nhận đã vay bao nhiêu.
- Không phản đối cũng được tính: khi một bên được biết tình tiết bên kia nêu mà không phản đối, bên nêu không phải chứng minh tình tiết đó. Vì vậy đọc kỹ tài liệu đối phương nộp và phản hồi bằng văn bản những điểm mình không đồng ý.
- Thừa nhận của người đại diện được coi là của đương sự nếu không vượt quá phạm vi đại diện. Khi uỷ quyền cho người khác tham gia tố tụng, hãy viết rõ phạm vi để tránh bị thừa nhận ngoài ý muốn.
- Thừa nhận ngoài toà, ví dụ trong tin nhắn, không tự động thuộc trường hợp miễn chứng minh theo điều luật này, nhưng là chứng cứ có giá trị. Tin nhắn "anh sẽ trả em đủ 200 triệu cuối năm" phải được thu thập, giữ nguyên và nộp như chứng cứ điện tử.
- Sự thừa nhận trong biên bản lấy lời khai, biên bản hoà giải ở toà nên được đọc lại trước khi ký, và nếu ghi chưa đúng thì yêu cầu sửa ngay.
Dùng nhóm tình tiết này để thu hẹp phạm vi tranh chấp
Người làm nghề thường tận dụng quy định về tình tiết không phải chứng minh để vụ án gọn hơn: càng nhiều điều được hai bên thống nhất, phần còn lại phải tranh luận càng ít, và chứng cứ của bạn càng tập trung. Có thể làm theo thứ tự sau.
- Lập danh sách mọi sự kiện liên quan tới yêu cầu, kể cả những điều bạn nghĩ bên kia không chối.
- Đánh dấu điều nào đã có bản án, quyết định có hiệu lực hoặc văn bản công chứng xác định; chuẩn bị bản sao có xác nhận của từng tài liệu đó.
- Với những điều còn lại, xem bản tự khai và văn bản ý kiến của bên kia: họ đã thừa nhận hay không phản đối điểm nào. Ghi lại vị trí cụ thể trong hồ sơ.
- Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, đề nghị ghi vào biên bản những tình tiết hai bên thống nhất. Đây là cách biến sự đồng ý miệng thành điều được ghi nhận.
- Dồn công sức thu thập chứng cứ vào những điểm thực sự còn tranh chấp, thường chỉ là một hai sự kiện then chốt như số tiền đã trả hay nguyên nhân gây thiệt hại.
Cách làm này cũng có lợi cho bên kia và cho toà, nên thường được đón nhận. Điều cần tránh là vì muốn nhanh mà đồng ý cả những điểm mình chưa kiểm tra kỹ: một khi đã thừa nhận trong biên bản, việc rút lại rất khó và phải có lý do thuyết phục.
Câu hỏi thường gặp
Bên kia thừa nhận nợ trong buổi hoà giải ở toà rồi sau đó chối thì sao?
Lời thừa nhận đã được ghi vào biên bản có chữ ký là căn cứ để toà xem xét. Việc chối sau đó không tự xoá giá trị của biên bản, nhưng toà sẽ cân nhắc lý do bên kia đưa ra. Vì vậy cần đọc kỹ biên bản và giữ bản sao.
Hợp đồng mua bán có chứng thực chữ ký thì nội dung có được miễn chứng minh không?
Chứng thực chữ ký chỉ xác nhận chữ ký là của người yêu cầu chứng thực, không xác nhận nội dung. Trong khi đó công chứng hợp đồng xác nhận cả tính hợp pháp của giao dịch. Vì vậy với văn bản chỉ chứng thực chữ ký, phần nội dung có thể vẫn phải chứng minh khi bị phản đối.
Thông tin do báo chí đưa có được coi là điều ai cũng biết không?
Không đương nhiên. Một tin báo có thể giúp toà dễ thừa nhận một sự kiện công khai như thiên tai, nhưng nội dung tranh chấp riêng giữa các bên thì không thể chứng minh bằng việc báo chí từng đưa tin. Toà có quyền quyết định thừa nhận hay không.
Bản án của vụ khác giữa những người khác có dùng được không?
Điều luật nói tới tình tiết đã được xác định trong bản án có hiệu lực. Nếu bản án đó xác định một sự kiện liên quan trực tiếp tới vụ của bạn, bạn có thể nộp bản sao để toà xem xét. Mức độ áp dụng cụ thể phụ thuộc vào việc tình tiết đó có đúng là điều đang cần chứng minh hay không.
Không trả lời văn bản của toà có bị coi là thừa nhận không?
Luật nêu việc không phản đối tình tiết bên kia đưa ra thì bên kia không phải chứng minh. Vì vậy im lặng kéo dài trước những tài liệu bất lợi là rủi ro. Khi nhận được thông báo và tài liệu của bên kia, nên gửi văn bản ghi rõ điểm nào đồng ý, điểm nào không.
Có thể rút lại lời thừa nhận đã nói ở toà không?
Bạn có thể trình bày lại và giải thích, nhưng lời thừa nhận đã được ghi nhận vẫn nằm trong hồ sơ và toà sẽ đánh giá cả hai lời. Nếu thừa nhận do nhầm lẫn, cần nêu lý do cụ thể và chứng cứ cho thấy sự nhầm lẫn đó càng sớm càng tốt.